Kể nhiều quá, đến lúc ta khô cả cổ, ho vài tiếng.
Mẫu hậu bỗng hỏi ta:
"Hằng nhi, còn miếng ngọc kỳ lân ấy đâu rồi?"
Ta ngẩn người, rồi đáp:
"Ở trong kho."
"Mẫu hậu muốn nhìn lại nó một lần."
Ta vốn định gọi người đi lấy, nhưng cuối cùng vẫn tự mình đi.
Khối ngọc ấy nằm trong kho đã nhiều năm, thế nhưng ánh sáng dịu lành của nó chưa từng phai nhạt.
Ta đặt nó vào tay mẫu hậu, như thể đặt xuống một đoạn ký ức nặng trĩu.
Mẫu hậu nâng tay lên, đưa viên ngọc ra dưới ánh mặt trời, tỉ mỉ ngắm nghía.
"Khi con lên bốn tuổi từng bị một trận ốm nặng, suýt chút nữa không giữ nổi mạng. Ngoại tổ phụ nghe nói ngọc ở Đồng Châu dưỡng người, đặc biệt là loại bích linh ngọc này, nếu khắc thành hình kỳ lân có thể trừ tà dưỡng hồn, nên đã cho người đi tìm, tìm suốt hai năm mới được một khối."
Mẫu hậu thở dài:
"Ông ấy cả đời cẩn trọng, hiếm khi rộng lượng với ai, mà cũng chỉ rộng lượng được một lần như thế thôi."
Hốc mắt ta ươn ướt, không kìm được mà bật ra:
"Là con không nên mang nó vào cung, mẫu hậu, lẽ ra con phải sớm xin lỗi người, là lỗi của con."
Nỗi nghẹn ứ trong lòng ta bao năm, cuối cùng cũng trút ra được.
Mẫu hậu mỉm cười, đặt lại viên ngọc vào tay ta:
"Muốn buộc tội, đâu sợ không có cớ? Đứa ngốc, con chính là niềm tự hào lớn nhất đời ta."
Ta không kìm được, òa khóc như trẻ nhỏ.
Từ hôm đó, ta lại mang viên ngọc ấy bên mình.
Đeo ngọc vào, mọi uất khí trong lòng bỗng tan biến.
Ngoại tổ nói không sai, ngọc này quả thực dưỡng người.
Sau này, Nguyên Nặc và Nguyên Tức nhìn thấy, cũng tranh nhau đòi ta cho bằng được.
Ta cười mà khóc, ôm lấy cả hai đứa, hứa rằng:
"Đợi khi ta mất rồi, sẽ mài viên ngọc này thành hai nửa, mỗi đứa một phần."
Nhưng hai đứa lại ôm ta khóc nức nở, nài xin ta đừng c.h.ế.c.
Ta vừa buồn cười vừa cảm động.
Những năm ta tại vị, bốn bể yên vui, thiên hạ thái bình, đúng như ý nguyện của phụ hoàng — thịnh thế mở đầu, sinh sôi bất tận.
Nhưng điều khiến ta mãn nguyện nhất, chính là mẫu hậu sống đến tám mươi mốt tuổi.
Thân thể người vẫn luôn cường kiện, mấy năm trước còn đích thân ra hồ Thái Dịch chăm sóc cây mai vàng năm xưa.
Người, cũng như phụ hoàng, trở thành một “hoa công”.
Chỉ có điều, cây mai ấy, suốt đời người, chưa từng nở hoa trở lại.
Sự tiếc nuối ấy kéo dài đến tận ngày mẫu hậu đi xa.
Đó là một sáng đầu thu, mẫu hậu nói tiết trời như vậy rất dễ chịu, người rất thích.
Mẫu hậu dặn chúng ta chuyển ghế ra ngoài trời, quay mặt về phía tây bắc.
Người nằm trên trường kỷ, không biết đang nghĩ điều gì, môi vẫn giữ một nụ cười nhè nhẹ.
Nguyên Nặc và Nguyên Tức khóc đỏ cả mắt, ta chỉ lặng lẽ nhắm mắt, lòng trống trải như hoang mạc.
Mẫu hậu, về nhà rồi.
Năm đó, mùa đông thật lạnh.
Cây mai vàng trong thành Trường An chỉ vừa hé nụ đã bị rét buốt làm rụng hết, cung nhân tìm kiếm khắp nơi, chỉ hái được vài nhành nụ non mang vào cắm lọ, ngày ngày chăm chút.
Mãi đến khi giai đoạn mùa đông lạnh nhất, lúc mai vàng thực sự nở, không có hương ấy, ta khó mà chợp mắt nổi.
Thuở nhỏ, phụ hoàng vẫn tự mình cắt nhành hoa ấy, bảo đó là loài hoa mẫu hậu thích nhất.
Đôi khi phụ hoàng còn kể cho ta nghe chuyện năm xưa cùng mẫu hậu ngắm mai nơi biên ải.
Mỗi lần nhắc tới, ánh mắt người đều lấp lánh.
Ta hồi tưởng chuyện cũ, bỗng như ngửi thấy mùi hương mai nồng nàn, giật mình ngẩng khỏi chồng tấu chương, mắt cay xè.
Trời ngoài cửa đã sắp tối, tiếng chân vội vã vang lên:
"Phụ hoàng! Hoa mai nở rồi! Mai vàng nở rồi!"
An Kiền đã ngoài bốn mươi mà vẫn chưa ra dáng người lớn.
Ta nghiêm mặt:
"Làm gì mà ồn thế, đi lại cho cẩn thận!"
Nó mới dừng lại, kích động nói:
"Phụ hoàng, cây mai mà hoàng tổ mẫu chăm… nở hoa rồi!"
Nghe rõ lời con, tấu chương trên tay ta cũng rơi xuống.
Ta vội vàng bước ra khỏi điện, mặc cho gió tuyết mà chạy thẳng về phía hồ Thái Dịch.
Một đoàn người theo sau bảo ta đi chậm thôi, nhưng ta không thể, thật sự không thể chậm lại.
Ta chạy rất nhanh, như năm xưa ngược gió tuyết chạy đi tìm phụ hoàng mẫu hậu, càng chạy càng thấy nôn nao.
Hương thơm lạnh ngắt thoảng qua không khí.
Ta bất chợt dừng bước, ngẩng đầu nhìn về phía trước:
Không xa đó, cả một cây mai trăm tuổi nở rực hoa vàng, cành nhánh già nua vươn dài, lặng lẽ đứng giữa đất trời mênh mang.
Ta đã viết nên đoạn kết cho một chuyện cũ.
Đôi mắt ta mở lớn, nước mắt tức thì dâng đầy, run rẩy thốt lên:
"Nó nở rồi… nó thật sự nở hoa rồi!"
Ta vừa khóc vừa cười, gạt hết mọi bàn tay định đỡ lấy mình, loạng choạng chạy đến gốc cây.
Tuyết bay trắng xóa, dường như cũng đang nhảy múa vì một cây hoa nở rực.
Ta mừng rỡ nhảy lên, hò reo:
"Phụ hoàng! Mẫu hậu! Hoa đã nở rồi! Nó thật sự nở rồi! Hai người có nhìn thấy không?! Ha ha ha ha!!!"
Ta bật cười thật to, nước mắt vỡ òa như mưa.
Giữa làn nước mắt nhòa lệ, ánh sáng dần rạng rỡ.
Ta trông thấy phụ hoàng và mẫu hậu, họ vẫn còn rất trẻ, chúng ta ba huynh muội cũng hãy còn thơ dại.
Mẫu hậu nắm tay ta, phụ hoàng một tay dắt Nguyên Nặc, một tay đan chặt cùng mẫu hậu, Nguyên Tức thì ngồi vững trên vai người.
Cả nhà chúng ta vừa cười vừa nói, trong hương mai ngào ngạt, cùng nhau đi thật xa, thật xa...
Thật xa, thật xa...
<Hoàn>
----------------
Giới thiệu truyện: 👉Nhiễm Bụi Trần
Bởi vì cứu lấy ta, Lư Yến Đoan từ công tử đệ nhất kinh thành thuở trước, trở thành kẻ tàn phế chân không lành lặn.
Hắn sợ làm lỡ dở duyên người, nhẫn tâm lui hôn với trưởng nữ nhà họ Chu, vốn là thanh mai trúc mã.
Sau đó lại muốn ta gả cho hắn.
Ta mang lòng hối lỗi, tất nhiên không chút oán thán.
Dẫu cho hắn càng ngày càng cô độc, tính tình quái gở, sớm nắng chiều mưa, ta cũng cam nguyện chịu đựng.
Khi ấy, ta ngỡ rằng, hai ta sẽ cứ thế vướng vất ân oán, nương tựa nhau qua trọn một đời.
Cho đến về sau, đôi chân của Lư Yến Đoan đã lành lặn.
Ngày hắn khỏi hẳn, hồi phủ, ta vẫn lần lữa chưa đi gặp.
Thấy hắn ngồi mân mê một đôi băng gối, hiếm khi nở nụ cười nhìn ta.
“Vì sao bây giờ mới tới?”
“Thật không dễ cho cái đầu óc gỗ mục của ngươi cũng biết chuẩn bị một phần lễ vật như vậy.”
Nói đoạn, hắn hớn hở đeo đôi băng gối ấy, vội vàng ra khỏi cửa.
Ta còn chưa kịp mở miệng giải thích.
Đôi băng gối kia, là đại cô nương nhà họ Chu cho người mang đến từ sớm tinh mơ.
Mà lễ vật ta chuẩn bị cho hắn, chính là tờ hưu thư đang nằm trong tay này.
Bình luận