05.
Giới huấn đường?
Đó là nơi Hầu phủ dùng để trừng phạt hạ nhân, ta vội vàng xắn tay áo, ống quần của Hằng ca nhi lên kiểm tra, chỉ thấy chi chít vết roi.
Hầu phủ vậy mà còn đánh nó nữa!
Tại sao? Trong lòng ta bỗng thắt lại, đến quên cả nhặt nửa củ khoai nướng dưới đất. Đến khi ta định thần thì củ khoai đã bị chó hoang bên đường tha đi mất rồi.
Ta nhíu mày, kiên nhẫn hỏi con:
“Bọn họ vì sao lại đánh con?”
Hằng ca nhi không chịu nói, chỉ cố chấp quay mặt sang một bên, cắn chặt môi dưới.
Ta biết, chắc chắn nó đã chịu uất ức trong Hầu phủ, gọi là bảo ta đến đón chúng đi, thật ra chẳng khác nào đuổi thẳng ra ngoài.
Ta nhẹ nhàng cầm lấy tay nó, dịu giọng khuyên nhủ:
“Hằng ca nhi, con nói cho nương biết, nương dẫu yếu thế chẳng làm gì được, cũng không thể vì con mà đòi lại công đạo, nhưng thật lòng nương rất lo cho con!”
Hằng ca nhi vẫn không chịu mở miệng, nhưng Huyền tỷ nhi bỗng bật khóc nức nở, thương ca ca mà kể:
“Ca ca không có đẩy đích mẫu đâu, là đích mẫu tự mình ngã đó…”
Từ lời Huyền tỷ nhi, ta dần dần chắp nối lại đầu đuôi sự việc.
Vị kế thất mà thế tử cưới về sau kia, cũng không phải kẻ bụng dạ nhỏ nhen. Khi mới về phủ, Hằng ca nhi là đích trưởng tôn, dù sinh mẫu xuất thân thấp kém, nhưng vì là huyết mạch chính thống, vẫn được trưởng bối trong phủ hết sức yêu chiều.
Ban đầu, nàng ta đối với Hằng ca nhi và Huyền tỷ nhi cũng rất thân thiết, ngày ngày hỏi han săn sóc.
Nhưng chẳng bao lâu sau, nàng ta mang thai. Thế tử cực kỳ coi trọng đứa con này, nàng có chỗ dựa, trong lòng cũng sinh thử thăm dò.
Hằng ca nhi muốn vào Tùng Hạc Thư Viện học, thư viện ấy chỉ dành cho Hầu phủ hai suất, bên Tam phòng đã lấy một, suất còn lại vốn là của Hằng ca nhi, nhưng kế thất lại cứ luôn miệng bên gối thế tử, nói cháu ngoại nhà nàng ta muốn suất ấy.
Thế tử thiên vị, liền đem suất học ấy nhường cho cháu bên nhà kế thất, lại còn mắng Hằng ca nhi và Huyền tỷ nhi là hai đứa không mẹ…
Hằng ca nhi trong lòng phẫn uất, không nhịn được bèn cãi lại mấy câu với kế thất. Lúc ấy, kế thất đã mang thai hơn bảy tháng, liền ngã lăn ra đất, vừa nằm vừa kêu đau bụng, làm động thai khí.
Thế tử vì vậy mà trách phạt Hằng ca nhi, bắt nó phải nhận sai. Nhưng Hằng ca nhi cảm thấy oan ức, bản thân chẳng làm gì, sao lại phải nhận tội?
Khi ấy, nó còn chưa biết, “có mẹ kế ắt sẽ có cha dượng”.
Thế tử thấy kế thất làm mình làm mẩy đòi về nhà mẹ đẻ, chẳng những không chịu nghe Hằng ca nhi giải thích, lại còn cùng lão phu nhân đem tên hai đứa nhỏ xóa khỏi gia phả, rồi đuổi thẳng khỏi phủ.
Hôm nay, nếu ta không chịu đến đón, chúng nó chỉ có thể lưu lạc đầu đường xó chợ.
Nghe hết chuyện, ta vươn tay ôm chặt lấy Hằng ca nhi, dịu dàng dỗ hai đứa:
“Đừng sợ! Từ nay chỉ cần còn nương, các con sẽ có nhà, có chỗ ngủ, có cơm ăn.”
Hằng ca nhi không đáp, nhưng cũng không vùng ra khỏi lòng ta nữa, có lẽ trong lòng nó đã dần buông lỏng.
Thấy nó không còn giận, ta hỏi:
“Có muốn ngồi lên xe dê không? Nương khỏe lắm, đẩy nổi mà.”
Hằng ca nhi lắc đầu:
“Con lớn rồi, để nương đẩy muội muội thôi, còn tay nải để con xách!”
Dứt lời, nó liền đưa tay cướp lấy hành lý của mình từ vai ta, mặt đỏ bừng mà bước lên phía trước, bước chân cũng nhẹ nhàng, thanh thoát hơn hẳn…
06.
Về tới nhà, ta nhóm lửa, bảo hai đứa ngồi lên giường đất cho ấm, trong lòng đã tính sẵn phải may cho chúng cỡ áo gì.
Nhìn hai cái tay nải nho nhỏ kia, chắc bên trong cũng chẳng có bao nhiêu quần áo ấm, phải tranh thủ đi sớm tới hiệu cầm đồ, chọn lấy hai cái áo bông dày về cho bọn trẻ, chỉ không biết chúng có chịu mặc áo bông cũ của người khác không.
Áo mới thì ta không kham nổi, một cái áo bông tốt cũng phải ba lượng bạc, năm đó ta rời Hầu phủ chỉ được cho mười lượng, mấy năm dè sẻn lắm mới còn sót lại tám lượng, đâu thể đem hết mà mua áo cho bọn trẻ, ta còn định để dành tiền cho Hằng ca nhi tiếp tục học tư thục.
Thấy ta chuẩn bị đi, Hằng ca nhi quýnh lên, bực tức hỏi:
“Nương định đi đâu? Có phải cũng muốn bỏ rơi chúng ta không? Ta biết ngay mà!”
Thấy nó hiểu lầm, ta vội giải thích:
“Con hiểu lầm rồi, nương chỉ muốn ra ngoài mua cho các con mỗi người một cái áo bông để thay đổi. Các con có gì muốn mua cứ nói, nương sẽ tiện đường mua về luôn.”
Hằng ca nhi vốn định nói ra nguyện vọng, nhưng nhìn quanh gian nhà trống trải xác xơ, chỉ thở dài:
“Thôi khỏi mua, chắc nương cũng chẳng có tiền đâu. Nương ở chỗ này mấy năm nay thật sao?”
Ta xoa đầu nó, giọng khàn đặc:
“Đúng vậy, nương chẳng có bản lĩnh, chỉ có thể sống tạm nơi này thôi.”
Hằng ca nhi nhíu mày chặt đến nỗi có thể kẹp chết ruồi:
“Nhưng tổ mẫu nói lúc người rời phủ, đã đưa cho người rất nhiều tiền. Nương vì tiền mà bỏ rơi chúng ta, còn nói người bán chúng ta cho Hầu phủ.”
Lão phu nhân Hầu phủ quả là dụng tâm khó lường, cố tình ly gián mẹ con ta.
May mà ta có nhân chứng. Ta kéo Từ thẩm ở sát vách tới làm chứng:
“Đây là Từ thẩm, hàng xóm của ta. Lúc nương mới chuyển tới đây, từng ngất xỉu ngay trước cửa, chính bà ấy cho nương một bát nước uống. Khi đó bà ấy có kiểm tra bọc hành lý của nương, các con có thể hỏi, trong đó có nhiều tiền không?”
Hằng ca nhi lập tức lo lắng quay sang hỏi Từ thẩm.
Từ thẩm thở dài, đáp:
“Mẫu thân các con lúc bị đuổi ra ngoài, hành lý chỉ có hai bộ quần áo cũ và mười lượng bạc thôi, đúng là chỉ mười lượng, không có nhiều hơn đâu.”
Hằng ca nhi im bặt, trong mắt chỉ còn sự áy náy nhìn ta. Những chiếc nghiên mực nó từng dùng, đem bán cũng đã hơn mười lượng, trong kho Hầu phủ còn hàng trăm chiếc như thế, chiếc ở thư phòng của phụ thân nó càng là bảo vật vô giá.
Hầu phủ đối với ta, đúng là tuyệt tình tuyệt nghĩa!
Ta vỗ vỗ tay nó, nhẹ nhàng nói:
“Không sao, nay mẹ con mình đoàn tụ, thế là đủ tốt rồi, tiền bạc chỉ là vật ngoài thân. Phụ thân con không cho, ta tự kiếm cũng được, chỉ là phải ủy khuất hai con, cùng ta chịu cảnh khốn khó này thôi.”
Hằng ca nhi còn muốn nói gì đó, đợi Từ thẩm đi rồi, nó đóng cửa, lặng lẽ dúi cho ta mấy món đồ:
“Nương, cái này đưa cho người.”
Đồ có cái là lấy từ búi tóc hai bên của Huyền tỷ nhi, có cái lại rút từ lót giày của nó ra, ta nhìn qua — một đôi trâm vàng nhỏ, thêm một tờ ngân phiếu năm mươi lượng!
Ta vội hỏi nhỏ:
“Mấy thứ này các con lấy từ đâu?”
Huyền tỷ nhi ú ớ không nói được, chỉ nhìn sang ca ca. Hằng ca nhi giải thích:
“Trâm vàng là quà sinh thần năm ngoái khách đến tặng Huyền tỷ nhi, còn ngân phiếu năm mươi lượng là tiền mừng tuổi tổ mẫu cho con trước kia, con lén cất lại.
Lúc biết sắp phải rời phủ, con lén đem giấu mấy thứ này, nghĩ bụng nếu không bị phát hiện thì ít ra chúng ta cũng không lo chết đói nửa năm.
Đây không tính là trộm cắp đâu, người cũng sẽ không bắt chúng con trả lại chứ?”
Nó lo xa rồi, ta đâu phải loại người cứng nhắc không biết ứng biến, trong nhà bây giờ thêm hai miệng ăn, ta còn đang lo không đủ tiền tiêu đây.
Có điều, ta không cầm những thứ ấy, chỉ bọc kỹ lại giao cho Hằng ca nhi cất giữ:
“Không cần đưa cho nương, trâm vàng thì giữ lại cho muội muội, sau này làm của hồi môn, còn ngân phiếu con cứ giữ lấy, đề phòng bất trắc.”
Nó trong lòng có vật để dựa, đêm nay hẳn sẽ ngủ ngon hơn.
Đến chiều, ta làm mấy chiếc bánh bột thô, lại cắn răng mượn Từ thẩm hai quả trứng, thêm ít hành ở góc vườn xào lên, cả nhà thơm lừng.
Món ăn như vậy, trước kia chỉ đến Tết ta mới dám làm, đối với hai huynh muội quen ăn cao lương mỹ vị, đây chỉ là cơm canh đạm bạc.
Ta cứ ngỡ chúng sẽ chê bai, sẽ không quen, Hằng ca nhi lại như lúc vứt củ khoai nướng, chê bánh bột thô ráp.
Nhưng bọn trẻ không hề chê, Huyền tỷ nhi ăn rất ngon, Hằng ca nhi ăn được mấy miếng lại đẩy đĩa trứng xào tới trước mặt ta:
“Nương, người cũng ăn đi.”
Nó còn nhỏ mà đã biết nhìn sắc mặt người khác, ta vốn muốn gắp lại cho hai đứa, nhưng ta không ăn thì chúng cũng chẳng dám ăn hết, thế là ta gắp một đũa.
Mà đũa trứng ấy, là miếng trứng ngon nhất trong đời ta từng ăn.