03.
Trước khi tới Hầu phủ đón con, ta cố ý lục ra bộ y phục tốt nhất của mình, tuy cũng chỉ là vải thô, nhưng ít ra cổ tay áo không có miếng vá nào. Bộ này thường ngày ta chẳng dám mặc, chỉ có dịp Tết mới đem ra diện một lần.
Ta lại tắm rửa chải chuốt một phen, chẳng thể để mùi mồ hôi hôi hám trên người khiến bọn trẻ khó chịu.
Nghĩ đường về cũng xa, trước khi xuất môn, ta lại đẩy luôn chiếc xe dê bán đậu hũ theo, nếu chúng mệt, có thể ngồi lên xe cho đỡ rã rời chân cẳng. Sợ chúng ngửi thấy mùi đậu, ta còn rửa xe ba lượt rồi mới yên tâm xuất phát.
Ấy thế mà khi đứng trước cửa Hầu phủ, lòng ta vẫn cứ thấp thỏm bất an. Xưa nay ta thường đến gõ cửa, nhưng hôm nay vừa bước tới đã dừng chân lại.
Ta chỉnh lại tóc tai, vuốt phẳng vết nhăn trên áo, rồi mới bước lên, thưa với tiểu đồng canh cửa, nhờ hắn vào báo giúp.
Tiểu đồng nói: “Ngươi chờ ở đây.”, rồi chẳng bao lâu đã kéo hai đứa nhỏ xách tay nải ra ngoài.
Không biết hai con ta đã chờ sau cánh cửa bao lâu, nhìn đôi bàn tay đỏ ửng vì lạnh, lòng ta đau như bị kim đâm. Hầu phủ thật vô tình, chẳng những chẳng giữ lại nơi phòng ấm, mà còn sớm đẩy hai đứa ra cửa đứng đợi.
Con gái gầy nhỏ, vóc dáng còn chưa tới thắt lưng ta, sau này về nhà phải bồi bổ lại mới được!
Ta có rất nhiều điều muốn nói, cổ họng nghẹn ngào mãi, rốt cuộc chỉ cất tiếng khàn khàn hỏi:
“Các con đã ăn sáng chưa? Có muốn uống canh đầu dê ở Tây thị không?”
Thực tình ta cũng quê mùa, mấy năm nay bám trụ lại trong thành, túng thiếu đủ bề, món ngon nhất từng nếm cũng chỉ là canh đầu dê mà người Hồ bán ở Tây thị.
Thời buổi này, thịt dê hiếm hoi, dân thường khó lòng ăn nổi. Đầu dê xương nhiều lại khó nấu, nhà giàu không thèm đụng đến, nên mới rơi phần dân đen chúng ta.
Một bát canh đầu dê giá mười lăm văn, trong đó không chỉ có củ cải hầm nhừ, còn có chút thịt dê vụn, bánh Hồ bẻ nhỏ thả vào, hương vị ấy thật chẳng gì sánh được!
Nào ngờ ta vừa đến gần, con trai đã xua tay, vẻ chán ghét:
“Người tránh ra! Ta không uống canh đầu dê, cũng không đi với người!
Dù có lưu lạc đầu đường xó chợ, đói chết ngoài kia, ta cũng không muốn đi cùng người. Năm xưa người chẳng cần chúng ta, giờ chúng ta cũng chẳng cần người!”
Ta chết lặng, hai tay luống cuống đưa ra muốn nắm lấy nó:
“Không phải vậy, Hằng ca nhi, nương chưa bao giờ muốn bỏ con với Huyền tỷ nhi lại, ta…”
Nhưng ta chưa nói hết câu, Hằng ca nhi đã trừng mắt, giận dữ:
“Tổ mẫu nói bao năm nay người chưa từng về Hầu phủ thăm chúng ta, tức là người không cần chúng ta nữa. Người là một mẫu thân tồi!”
Thì ra, Hầu phủ lại dạy con ta nghĩ về ta như thế.
Như có ai tạt một thùng nước lạnh vào mặt, từ đầu đến chân ta giá buốt.
Ba năm lạnh lẽo đâu phải một sớm một chiều, lão phu nhân Hầu phủ cố ý ly gián mẹ con ta, khiến trong lòng con trẻ nảy sinh bao hiểu lầm sâu nặng.
Ta há miệng, muốn phân trần, nhưng biết rằng bây giờ, dẫu ta có nói gì đi nữa, nó cũng sẽ chẳng tin lời ta nổi…
04.
Ta lau nước mắt ở khoé mắt đi, vòng qua Hằng ca nhi đang nhìn ta đầy địch ý, đưa mắt sang Huyền tỷ nhi nhỏ bé đứng cạnh. Con bé gầy gò, trông như chú nai con bị kinh sợ, vành mắt hoe đỏ.
Ta lấy từ trong túi ra một gói kẹo mận đã chuẩn bị sẵn, giả vờ thoải mái, đưa tới trước mặt nó:
“Huyền tỷ nhi, vậy con có muốn đi với ta không? Làm quen một chút, ta là nương của con.”
Nó ban đầu trốn sau lưng Hằng ca nhi, rồi len lén ló đầu ra, dùng ánh mắt sợ sệt nhìn ta, trong mắt còn mang theo vài phần tò mò.
Ta ngồi xổm xuống, kiên nhẫn dỗ dành:
“Đi với nương về nhà nhé? Nương biết tết bím nhỏ rất đẹp, nương còn biết làm đậu hũ. Nương nuôi nổi hai đứa, ít nhất cũng khá hơn là để các con phơi thân ngoài đường.”
Câu trả lời của Huyền tỷ nhi là đưa tay lấy một viên kẹo bỏ vào miệng… rồi đột nhiên òa khóc:
“Chua! Kẹo này chua quá!”
Ta vội ôm con bé vào lòng, nhẹ nhàng vỗ lưng an ủi:
“Là lỗi của nương, ngay cả kẹo cũng không mua được cái ngon. Nương thấy cửa hàng bán loại này chạy nhất nên tưởng là ngon. Thôi, cái này để nương ăn, về sau nương mua loại ngon hơn cho các con.”
Ta nhét lại gói kẹo vào tay áo, rồi bế con bé đặt vào thùng xe dê, phủ lên người nó chiếc chăn bông nhỏ đã chuẩn bị. Làm vậy mới đỡ lạnh đôi chút.
Huyền tỷ nhi rất ngoan. Ta làm gì nó cũng không giãy, chỉ mềm nhũn tựa vào lòng ta, hấp thu chút hơi ấm — hẳn là nó đã bị lạnh đến ngây người rồi…
Chăm sóc xong cho bé, ta quay đầu nhìn Hằng ca nhi vẫn đứng yên một chỗ, hỏi nó:
“Giờ ta đưa muội muội con về nhà. Nếu con không theo, vậy chẳng lẽ không sợ ta đem con bé bán vào kỹ viện sao?”
Hằng ca nhi nghe vậy hừ lạnh một tiếng, mới chịu không tình nguyện mà bước theo.
Trong lòng ta nhẹ bẫng — chỉ cần chịu theo ta về, mọi chuyện sau này ắt sẽ từ từ mà hóa giải.
Đi ngang Tây thị, ta định mua cho bọn trẻ một bát canh đầu dê, nhưng Hằng ca nhi nhất quyết không chịu:
“Thứ tanh nồng như vậy, ta ăn không vô! Người cũng đừng cho muội muội ăn, hôi chết được!”
Ta cũng không tức giận. Nó được nuông chiều quen rồi, cần thời gian để làm quen cuộc sống dân thường.
Nó chê canh đầu dê, may mà bên cạnh có người bán khoai nướng. Ta mua một củ, bẻ đôi: phần lớn đưa cho nó, phần nhỏ đưa cho Huyền tỷ nhi.
Huyền tỷ nhi chắc đã đói lả, ăn từng ngụm nhỏ mà ngon lành lắm.
Còn Hằng ca nhi mới đầu bướng bỉnh không chịu lấy, còn giận dỗi:
“Ta không ăn thứ người đưa!”
Ta biết nó sĩ diện, bèn đổi cách nói:
“Không ăn cũng được, đói mà chết đi thì ta đỡ tốn cơm. Đến lúc đó đem muội muội ngươi bán cũng chẳng ai ngăn…”
Vừa nghe ta lại nhắc tới muội muội, nó lập tức khó chịu mà đón lấy nửa củ khoai, nhưng vẫn quay mặt sang chỗ khác.
Ta đẩy xe đi trước, phía sau nghe tiếng nhóc con đói lả kia đang lén lút ăn từng miếng nhỏ.
Hầu phủ có quy củ: dẫu có đói cũng không được ăn mất dáng. Đợi ta đi tới mấy trăm mét, quay lại nhìn, nó vẫn còn chưa ăn xong.
Ta không nhịn được, nói với nó:
“Con bây giờ đâu còn là công tử của Hầu phủ, ăn nhanh đi chẳng cần giữ mấy cái quy củ vớ vẩn ấy nữa.”
Ta vốn muốn nó thoải mái đôi chút, nhưng không ngờ câu ấy lại chạm thẳng vào nỗi đau của nó.
Nó lập tức đỏ hoe mắt, quăng mạnh nửa củ khoai xuống đất, hét lên với ta:
“Ta biết mà! Ngươi ghét bỏ ta! Ghét ta không còn là công tử của Hầu phủ nữa!
Đã ghét như vậy thì cần gì đón ta về!
Để ta chết luôn trong giới huấn đường cho rồi!”